Thành phố Châu Đốc (tỉnh An Giang) là một đô thị du lịch - lễ hội đầy tiềm năng với quang cảnh thơ mộng bên ngã ba sông. Nơi đây vừa có núi, vừa có sông, lại có nhiều di tích văn hóa lịch sử, danh lam thắng cảnh… những điều đó góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch của thành phố. Từ nội ô thành phố, du khách đi theo đường Tân Lộ Kiều Lương để đến với cụm di tích - danh thắng núi Sam là tâm điểm du lịch của Châu Đốc.
Tân Lộ Kiều Lương
Đây là một trong những con đường đầu
tiên được đắp ở An Giang, do Thoại Ngọc Hầu cho thực hiện trong hai năm 1826 -
1827 và ông đặt tên là Tân Lộ Kiều Lương. Con đường do chính ông bỏ tài sản ra
thực hiện chứ không dùng ngân sách triều đình, vậy mà ông chỉ khiêm tốn nhận xét rằng: “Làm việc ấy chính là đã
tỏ chút lòng đền đáp của kẻ chăn dân.”
Con đường hàng trăm tuổi nầy cũng là
một trong những con đường đẹp của tỉnh, gợi lại cho người An Giang biết bao nỗi nhớ niềm thương. Xung quanh có
đồng ruộng xanh tươi, ven đường có những hàng cổ thụ tỏa bóng mát rượi, xa xa là ngọn núi Sam như bức bình
phong vĩ đại chắn ngang. Đặc biệt vào mùa hè, những hàng phượng ven đường
trổ bông đỏ rực, nên nhiều nghệ sĩ còn gọi nó là “đường phượng bay”.
Đặc biệt, dọc theo đường có trưng bày
những tác phẩm điêu khắc độc đáo làm từ bàn tay của hàng trăm nhà điêu khắc đến
từ khắp các nước. Năm 2003, lần đầu tiên Châu Đốc đăng cai trại điêu khắc quốc
tế chủ đề “Dấu ấn An Giang” với sự tham gia của 34 nhà điêu khắc từ 14 nước
trên thế giới. Sau trại điêu khắc nầy, 34 tác phẩm đã ra đời. Năm 2005, Châu Đốc
tiếp tục tổ chức trại điêu khắc quốc tế “Dấu ấn An Giang” lần thứ hai với 62
nhà điêu khắc đến từ 16 quốc gia. Trại sáng tác lần nầy cho ra đời 68 tác phẩm.
Những tảng đá vô tri, vô hồn giờ đây
dường như bay bổng và thoát tục. Mỗi bức tượng là một thông điệp đầy ý nghĩa
nhân văn, thể hiện sinh động và phong phú các nền văn hóa. Đặc biệt là có nhiều
tác phẩm với chủ đề An Giang của những điêu khắc gia nước ngoài nhưng lại thể
hiện rất sống động, đậm nét về đất và người An Giang. Dường như quê hương An Giang đã tạo nên nguồn cảm hứng dồi
dào, làm rung động những người khách lạ.
Chùa Tây An
Chùa Tây An (Ảnh: Vĩnh Thông) |
Đến với núi Sam, điểm đầu tiên bạn bắt gặp là ngôi chùa Tây An đồ sộ, cổ kính, lạ mắt nằm ngay tại ngã ba. Đây là ngôi chùa có kiến trúc kết hợp phong cách cổ truyền của chùa Việt và một số nét nghệ thuật Ấn Hồi… qua đó phần nào thể hiện tính chất đa văn hóa của vùng biên giới có sự cộng cư nhiều tộc người.
Chùa ban đầu được Tổng đốc Doãn Uẩn
cho xây dựng năm 1847, tên Tây An mang thông điệp đầy ý nghĩa là ước mong
bờ cõi phía Tây được an định. Chùa được trùng tu nhiều lần qua các đời trụ trì.
Tuy nhiên, diện mạo như hôm nay có từ lần đại trùng tu năm 1958 do Hòa thượng
Thích Bửu Thọ công đức.
Chùa Tây An nằm trên nền cao, thoáng
rộng, tựa lưng vào núi Sam vững chãi phía
sau, xung quanh có nhiều hoa kiểng. Nhìn
chung, chùa Tây An là một công trình kiến trúc
mang tính thẩm mỹ cao. Nội và ngoại thất chùa được tạo tác công phu, tỉ
mỉ đến từng chi tiết nhỏ. Tất cả làm nên sự hài hòa mà cũng rất đặc biệt, sáng
tạo, không giống bất cứ ngôi chùa nào.
Chùa Tây An cũng là một trong những
ngôi chùa có nhiều tượng nhứt An Giang, với
khoảng 200 pho tượng. Đa số các tượng
được làm bằng gỗ, chạm trổ sắc nét, đậm triết lý Phật giáo. Các nhà
nghiên cứu ca ngợi nghệ thuật tạo hình những pho tượng gỗ thế kỷ XIX, mà không
một ngôi chùa nào tại An Giang có đầy đủ những thể loại đa dạng và sinh động
như thế.
Miếu Bà Chúa Xứ
Nằm chếch
góc với chùa Tây An là một ngôi miếu khang trang, có tên chữ là Chúa Xứ Thánh
miếu, thường gọi là miếu Bà Chúa Xứ. Ban đầu
miếu cất đơn sơ. Đến năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng hồ ô dước,
sau đó trải qua nhiều lần trùng tu. Từ năm 1972 đến 1976, miếu được xây mới đồ
sộ, nguy nga, với dáng vẻ như hiện nay.
Trung tâm
ngôi miếu là pho tượng Bà Chúa Xứ to lớn, mặc áo thêu rồng phượng sặc sỡ, đầu đội
mão, được đặt trên nền cao ở giữa miếu. Tượng làm bằng trầm tích thạch màu xanh
đen, nghệ thuật điêu khắc tương đối đơn giản theo phong cách dân gian, mang dấu
ấn văn hóa Ấn Độ. Sau khi phụng thờ, người dân đã điểm xuyết khuôn mặt bức tượng
trở thành người phụ nữ phúc hậu, gắn pha lê vào mắt trông rất sống động.
Miếu Bà và tượng Bà gắn liền với nhiều truyền thuyết huyền bí, hấp dẫn, được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Dân gian kể rằng, pho tượng ban đầu trên núi Sam, dân làng phát hiện và khiêng xuống núi để thờ cúng. Mặc dù có nhiều truyền thuyết, nhưng câu hỏi làm sao có thể đem tượng lên núi Sam và đem xuống vẫn còn là một bí ẩn!
Hằng năm, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam diễn ra từ ngày 23 đến ngày 27 tháng 4 âm lịch. Đây là một lễ hội có tầm cỡ lớn hàng đầu ở Nam Bộ, thu hút hàng triệu khách hành hương từ các nơi về dự.
Lăng Thoại Ngọc Hầu
Lăng Thoại Ngọc Hầu nằm trên nền cao
tựa lưng vào núi Sam, chếch góc với miếu Bà Chúa Xứ. Đây là nơi an nghỉ của Trấn thủ Vĩnh Thanh Thoại Ngọc Hầu và nhị
vị phu nhân. Lăng còn được gọi là Sơn lăng hoặc lăng Quan lớn Bảo hộ, lăng Bảo
hộ Thoại hay đơn giản là lăng Ông. Dân gian vùng nầy có câu ca dao: “Đi ngang
qua cảnh núi Sam / Thấy lăng Ông Lớn hai hàng lụy rơi / Ông ngồi vì nước vì đời
/ Hy sinh tài sản không rời nước non.”
Lăng Thoại Ngọc Hầu là công trình kiến trúc đặc sắc, cổ kính, với một tổng thể hài hòa từ cổng vào đến bình phong, khu mộ, đền thờ, cây cảnh… mang phong cách lăng tẩm triều Nguyễn. Toàn bộ khu lăng được xây bằng hồ ô dước, bao bọc bởi bức tường dầy và cao, bền chắc. Cổng vào lăng hình bán nguyệt đồ sộ, sau cổng là năm tấm bia đá cổ do người đời sau tìm được, trong đó ở giữa là bia Vĩnh Tế Sơn.
Trong khu chính có ba ngôi mộ xây bằng hồ ô dước đơn sơ, khiêm tốn. Ở giữa là ngôi mộ của Thoại Ngọc Hầu, bên phải của chánh thất Châu Thị Tế, bên trái nhỏ hơn của thứ thất Trương Thị Miệt. Mỗi ngôi mộ có kiến trúc mang dáng dấp đền miếu, trước mộ có bức bình phong dầy dặn che chắn. Phía sau khu mộ là đền thờ Thoại Ngọc Hầu có diện tích nhỏ gọn, kiến trúc đơn giản, đậm nét truyền thống. Trong đền bày trí trang nhã, tôn nghiêm, với điểm nhấn là tượng bán thân Thoại Ngọc Hầu.
Chùa Hang
Cách miếu Bà Chúa Xứ khoảng 1,5 km,
chùa Hang - Phước Điền tự là một kiến trúc tinh xảo nằm trên núi Sam với tổng
thể màu nâu đỏ thâm nghiêm, trầm mặc, như chốn bồng lai bất chợt hiện ra trước
mắt du khách.
Chùa do bà Thợ lập vào thập niên
1850. Bà tên thật là Lê Thị Thơ (1818 - 1899), quê ở Chợ Lớn, làm nghề thợ
may nên được gọi là bà Thợ. Con đường tình duyên lận đận, không tìm được hạnh
phúc cho mình, bà muốn lánh xa cõi trần tục, tìm đến chùa Tây An ở núi Sam để
tu hành. Sau một thời gian, bà rời chùa Tây An để đi về phía Tây núi Sam, tại
đây bà gặp hang sâu yên tĩnh nên ở lại tu hành. Tương truyền, trong hang sâu có
cặp rắn khổng lồ là thanh xà (xanh) và bạch xà (trắng), hằng đêm đến nghe kinh và bảo vệ cho hang thờ Phật của bà. Sau
nầy bà viên tịch, đôi mãng xà cũng biến mất.
Chùa Phước Điền ngày nay mang phong
cách Thiền tông, gồm nhiều tòa nhà kiến trúc gần giống nhau nhưng chức năng
khác nhau. Chánh điện bày trí đơn giản, thanh thoát và tôn nghiêm. Phía sau
chánh điện còn một di tích quan trọng, đó là hang sâu mà bà Thợ từng tu hành,
hiện nay phần sâu bên trong đã được lấp kín để tránh nguy hiểm, chỉ còn lại khoảng
10 mét.
Vòng quanh núi Sam
Núi Sam cao 228 mét, chu vi 5.200
mét, nằm chễm chệ giữa một vùng đồng ruộng bát ngát, án ngữ cửa ngõ vào Thất
Sơn. Núi có ba phần chính là ngọn Đầu Bờ phía Đông, ngọn cao nhứt là đỉnh và ngọn
Đá Chẹt phía Tây. Xung quanh núi có đồng ruộng bát ngát, trên núi có nhiều cây
phượng và huỳnh mai cứ đến mùa là trổ bông rực rỡ cảnh núi. Nhìn từ trên núi
Sam xuống, Tân Lộ Kiều Lương giống như con rắn lượn giữa làng mạc, xóm thôn. Dưới
chân núi là nhà cửa chi chít, xa hơn là ruộng đồng, kinh rạch xanh lơ, và đô thị
Châu Đốc nằm tít xa quyện với sương mờ.
Đỉnh của núi Sam có tên gọi là Pháo Đài, vì năm 1896, Chủ tỉnh Châu Đốc Doceuil đã cho xây dựng một ngôi nhà nghỉ mát trên đỉnh núi, tầng trên cùng có hình trôn ốc nên người dân gọi là Pháo Đài. Trong thời kỳ chiến tranh, Pháo Đài cũng là căn cứ quân sự chiến lược, tuy nhiên đã bị phá hủy. Ngày nay, Pháo Đài chỉ còn là phế tích với những bức tường loang lổ.
Lên đến đỉnh núi, du khách sẽ thấy bệ
đá trầm tích thạch màu xanh đen, hình vuông,
ở giữa có lỗ vuông. Đây là bệ đá đặt tượng Bà Chúa Xứ trước khi được đem
về miếu. Bệ đá được phát hiện trên núi Sam vào thập niên 1980, sau đó được xây
dựng thêm ngôi nhà mát để bảo vệ di tích. Bên dưới Pháo Đài và bệ đá cổ một đoạn
ngắn là ngôi chùa Giác Hương được thành lập từ năm 1878.
Thời xa xưa, vùng Tây Nam Bộ còn chìm trong nước biển, hòn Sam nổi trên mặt nước, mang hình dáng như con sam khổng lồ. Đến khi nước biển rút, hòn Sam nằm giữa đồng bằng nên gọi là núi Sam, còn có tên là Hấu sơn, Học sơn. Sau khi kinh Vĩnh Tế được đào xong, vua Minh Mạng đã tứ danh ngọn núi nầy là Vĩnh Tế sơn, để ghi công chánh thất phu nhân của Thoại Ngọc Hầu.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét